Trang

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2011

Cao Bá Quát - Đấng tài hoa muôn thuở!

Có lẽ trong suốt cuộc đời khốn nạn, ba chìm bảy nổi …mà Cao Bá Quát đã trải qua thì cái ấn tượng ngạo mạn, khinh đời của ông đã được thể hiện rất rõ nét qua hai sự kiện văn học mà ngày nay vẫn còn được nhiều người biết đến với lòng khâm phục lẫn cảm thương đó là: Việc ông đã dõng dạc coi thường cái chết khi bước ra pháp trường , quẳng lại cho đời một câu đối tài hoa ngạo mạn:
“Ba hồi trống giục mồ cha kiếp
Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời!”
Sự kiện ngạo mạn thứ hai là việc ông đường bệ chê đôi câu đối do Vua Tự Đức sáng tác định treo ở Điện Cần Chánh trong dịp khánh thành để tri ân Tiên Đế cũng như thể hiện tài năng chữ nghĩa của một “ông vua thi sĩ” với quần thần (!) là “bất ổn, cương thường đã bị đảo lộn…”
Cũng vì xót thương cho kiếp tài hoa bạc mệnh bỡi bản án tru di tam tộc và cũng để bày tỏ lòng thán phục tột độ một tài năng thi phú và tư chất thông minh uyên bác của ông, người đời sau đã tôn vinh ông là Thánh Quát.
Chuyện xưa kể rằng: Vua Tự Đức là một ông vua thi sĩ, sính làm thơ văn lại là một người con rất hiếu thảo. Nhân dịp khánh thành Điện Cần Chánh là nơi phụng thờ tiên triều, để bày tỏ lòng trung nghĩa, hiếu thảo của một bậc đế vương, nhà vua đã tự đáy lòng mình sáng tác ra đôi câu đối để định treo thờ nơi chính điện tôn nghiêm:
“Thần khả báo quân ân
Tử năng thừa phụ nghiệp”
Dĩ nhiên với tài văn chương chữ nghĩa , thi phú của Tự Đức thì đây là kết quả của một cố gắng lớn, là một kỳ công nghệ thuật… khó ai bì kịp. Nhưng vì chính nhà vua lại rất khoái nghe một lời “khen” từ cửa miệng Cao Bá Quát trước khi cho sơn son thếp vàng để dâng lên Tiên đế nên đã đem câu đối này để khoe với “bạn văn chương”. Hỡi ôi, từ cửa miệng thi nhân lại thốt lên một lời chê không chút tiếc lời: “Bất ổn, bất ổn, cương thường đảo lộn, dứt khoát không thể dùng được…”. Không ai chứng kiến lúc đó nhà vua có bị toát mồ hôi hột vì long nhan đã bị làm kinh động hay không nhưng sự thể tiếp theo là nhà vua đã bình tĩnh cho gọi thi nhân vào để lục vấn. Và với tài năng thiên phú lẫn tư chất thông minh sẵn có, Cao Bá Quát đã lý giải tận tường và chữa lại chỉnh đốn cho đôi câu đối để đời tại điện Cần Chánh nhà Nguyễn:
“Quân ân thần khả báo
Phụ nghiệp tử năng thừa”.
Xét về mặt giá trị thì rõ ràng khi đã được chữa lại, câu đối đã được nâng lên đến mức tối đa về giá trị ngữ nghĩa và nghệ thuật thi pháp. Bằng sức học của mình, vua Tự Đức cũng kịp nhận ra sự yếu kém nhất thời về mặt chữ nghĩa của mình. Chính nhà vua đã hàm ơn Thánh Quát vì rằng: “Trí thông minh còn hơn cả nhà vua”.
Bằng một “nhát gươm” tài hoa, Thánh Quát đã kết liễu số phận của một câu đối mà tác giả lại chính là “đương kim Hoàng thượng Tự Đức”. Thực sự chữ nghĩa trong Cao Bá Quát lúc ấy đã tỏa sáng lung linh như ánh nến của đêm hội hoa đăng mà bối cảnh xã hội đương thời của ông là một đêm đen dày đặc(!). Ông cười cho kiếp người ngắn ngủi, vô vọng; cười vì thế thái nhân tình lắm nỗi trái ngang:
“Trói chân kỳ lý tra vào rọ
Rút ruột tang bồng trả nợ cơm!”
Và rồi cuối cùng cũng vì sự ngạo mạn và bất mãn lên đến tột đỉnh, không còn lối thoát ông đã bỏ nghiệp làm thơ để đi làm quân sư cho giặc Châu Chấu chống lại triều đình nhà Nguyễn .
Oái oăm thay, sự hạnh ngộ của “khách thơ văn “ cuối cùng trong cuộc đời ông với vua Tự Đức không phải là một cuộc tao phùng trong tư thế thi thơ nho nhã của bậc tài tử cao nhân giữa cung vàng điện ngọc…mà là một dáng hình trái khoáy trong thân phận của một kẻ tội đồ!
“Một chiếc cùm lim chân có đế
Ba vòng xích sắt bước thì vương!”
Hồi trống định mệnh đã kết liễu một kiếp tài hoa:
“Ba hồi trống giục mồ cha kiếp
Một nhát gươm đưa, bỏ mẹ đời!”
Thánh Quát đã đi vào cõi vĩnh hằng một cách đường bệ, đầy khí phách và thoang thoảng hương thơ. Ông mãi ngồi đó trên thi đàn của dân tộc để chứng kiến bao thăng trầm hưng phế của lịch sử …. Hậu thế chúng ta mãi mãi được chiêm ngưỡng nét tài hoa của ông trong kho tàng chữ nghĩa, trong sự nghiệp thơ văn rất ít ỏi còn sót lại sau bản án tru di tam tộc của ông.
Chỉ chừng đó hành trang, Thánh Quát đã bước vào dòng văn học nước nhà với dáng vẻ của một đấng tài hoa muôn thuở!
Tháng 8/ 2010
DIỆP THẾ THOẠI

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét