Trang

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2011

Gửi Huệ Nguyễn

Duyên may tôi được bác hòa thơ
Tiền bối hậu sinh hiệp bất ngờ
Sáu chục tuổi dư, dư ý tưởng
Bốn mươi năm thiếu, thiếu hồn thơ
Nỗi riêng góp lại trang đời thảm
Đâu dám như ai bụng mở cờ
Được một tri âm đời vạn phúc
Trân trong nâng niu há hững hờ!

Diệp Thế Thoại

Vịnh cụ già

Bóng ngã đường chiều bạc tóc râu
Cái già sồng sộc nó theo sau
Mắt mờ nên nhạt nhòa nhân ảnh
Gối mỏi còn đâu nhịp bước mau
Lời nói đúng sai: bày vẽ chuyện
Tiếng ho nặng nhẹ: mích lòng nhau
Già mày già mặt già tâm trí
Bỡi vậy cho nên có dám đâu!

Diệp Thế Thoại

Tự trào

Mấy chục năm qua vẫn giáo làng
Sớm chiều hai buổi bước lang thang
Mảnh bằng năm cũ còn trơ đó
Danh phận ngày nay luống ngỡ ngàng
Chữ nghĩa lỗi thời đành xếp lại
Văn chương lạc hậu dám làm sang
Ê a tiếng học trò trong lớp
Ngọn gió đìu hiu rụng lá vàng

Diệp Thế Thoại

Vịnh cây tiêu

Xanh xanh màu lá ấy cây tiêu
Chăm bón thường xuyên ắt hạt nhiều
Ụ đắp gạch sành mưa chắc gốc
Trụ trồng cây lõi gió không xiêu
Họ thơm dùng để làm gia vị
Giống đắng xưa nay thuốc một liều
Bốn bể năm châu đều có mặt
Mối tình kinh tế thắm thương yêu!

Diệp Thế Thoại

Đi xa vẫn nhớ Tuy Hòa

Tuy Hòa quê nẫu của ta ơi
Năm tháng đi qua chẳng đổi dời
Núi Nhạn ngàn năm hoa đỏ thắm
Sông Ba muôn thuở nước xanh ngời
Sắt son nghĩa nặng êm câu hát
Chung thủy tình sâu đậm tiếng cười
Nhớ tách cà phê đêm thức trắng
Nhớ đường mía ngọt nhớ rau tươi!

Diệp Thế Thoại

Đẹp một cảnh đời (tặng Ái Dân)

Tuổi già nhưng sức dẻo hơn trai
Đất Phú trời Yên dễ mấy ai
Mấy dặm trường chinh chân chửa mỏi
Ngàn câu trào phúng ý chưa phai
Chém Kình vung kiếm dầu non sức
Đuổi Hổ ra tay dẫu kém tài
Khói thuốc hương trà say ý tưởng
Ung dung tự tại tháng năm dài!

Diệp Thế Thoại

Vịnh cẩu cầy

Chữ nghĩa văn hoa gọi cẩu cầy
Vẫn là giống chó tự xưa nay
Thức thơm vểnh mỏ không thèm ngó
Của thối nhe nanh chực đớp ngay
Mến chủ giở trò đuôi lắc lắc
Thương bầy ra thói đit lay lay
Trắng đen vằn vện loài muông cẩu
Chửi mắng đòn roi vẫn mặt dày!

Diệp Thế Thoại

Như mắm trở mùi

Khó chịu nào hơn mắm trở mùi
Chẳng tanh chẳng thối hỡi eo ôi
Hôi hôi hít phải cho nên hủm
Hủm hủm cho nên ngửi thấy hôi
Ầm ĩ bốn bề vang tiếng nhặng
Bập bềnh mặt nước nổi thây giòi
Dở ăn dở đổ khôn đem bán
Rõ khổ thân tôi phải ngửi hoài !
Diệp Thế Thoại

KHÓC ÁI DÂN (bạn thơ quá cố)

Vội vã chi mà sớm biệt ly
Não lòng kẻ ở với người đi
Tờ thơ trào phúng chưa khô mực
Giọt lệ ai hoài đã ướt mi
Sáng ánh trăng rằm đâu buổi gặp
Đốt lò hương nhớ để mà chi
Ra đi để lại "Tình thơ" cũ
Hòa xướng cùng ai hỡ cố tri!
Diệp Thế Thoại

Nhớ Tổ thơ (*)

Biết mấy mùa trăng đã cách xa
Tình thơ một thuở ý chưa nhoà
Tơ tằm vướng nợ sau cùng trước
Hoà xướng vầy duyên trẻ với già
Giọt đắng bao lần se bút thỏ
Hương nồng mấy lượt thắm tờ hoa
Tri âm tri kỷ chờ tri ngộ
Gởi trọn vào thơ ý đậm đà!
Diệp Thế Thoại
(*) Tổ thơ Diên Hồng

NỖI LÒNG CHA

Con ơi mòn mỏi tấm lòng cha
Từ buổi con không giữ nếp nhà
Giở chứng đua đòi nên biếng học
Cứng đầu lêu lổng sống bê tha
Sinh thành dưỡng dục công nào quản
Che chở bao dung mấy hải hà
Dẫu biết ngày mai đường rộng mở
Con còn phiêu bạt cánh chim xa!
1996
DIỆP THẾ THOẠI

HÃY LÀM VUI LÒNG ÔNG BÀ, CHA MẸ

“Làm vui lòng ông bà, cha mẹ” là nội dung một bài học đạo đức vỡ lòng mà bất cứ một học sinh tiểu học nào (cụ thể là ở lớp 2) cũng đều đã được học ở trường. Chính bài học đạo đức này đã góp phần không nhỏ vào việc xây dựng hành vi đạo đức con người ngay từ thuở ấu thơ, nhằm tạo nên những người công dân tốt cho xã hội mai sau và những người con cháu hiếu thảo trong gia đình.
Ngay ở đầu đề bài học đã nêu lên được sự ẩn chứa phạm vi khái quát về một nội dung rất là sâu rộng. Việc “làm vui lòng ông bà, cha mẹ” cần phải được hiểu nghĩa theo một chiều hướng tích cực và về cả hai phía. Và cũng vì bài học đạo đức này chỉ được chọn để dạy ở bậc tiểu học nên cũng chỉ là để góp phần xây dựng cho các em có một thói quen là “vâng phục” ông bà, cha mẹ để ông bà, cha mẹ được vui lòng. Cũng hiểu theo nghĩa tích cực thì ông bà, cha mẹ là người luôn luôn sống chuẩn mực, sống đúng, sống có đạo đức . Những lời bảo khuyên, dạy dỗ nhắc nhở con cháu…là trách nhiệm thiêng liêng của ông bà, cha mẹ và không ngoài một mục đích duy nhất là mong sao con cháu cứ noi theo đó mà được nên người. Trong gia đình thì ông bà, cha mẹ luôn là tấm gương sáng để con cháu noi theo. Vì vậy, khi “làm vui lòng ông bà, cha mẹ” chính là lúc các em thực hành một hành vi đạo đức đã được học ở trường, cũng như để chứng tỏ rằng mình là một người con cháu ngoan hiền, hiếu thảo đối với ông bà cha mẹ.
Thực tiễn cho thấy rõ chân giá trị của bài học đạo đức trên đã góp phần không nhỏ vào việc củng cố đạo đức học đường nói chung và hạnh phúc gia đình nói riêng, khi mà những người con cháu ấy đang còn ở trong lứa tuổi thiếu nhi dễ dạy, dễ khiến bằng chính sức mạnh của lời nói giữa “người trên” và “kẻ dưới”.
Dần dà theo năm tháng, các em được trưởng thành hơn, tầm hiểu biết cũng được mở rộng hơn. Các em đã biết tự suy luận, biết lập luận, biết cả lý luận và đặc biệt là khi được tiếp cận với trào lưu văn minh vật chất ngoài xã hội thì các em lại thấy nhu cầu hưởng thụ bản thân nhiều hơn và bao giờ các em cũng cho rằng những suy nghĩ và việc làm của mình là đúng. (lúc nhỏ chỉ cần có viên keo, viên bi… là đủ, nhưng khi mới vừa lớn lên thì đã biết phung phí thời giờ và tiền bạc vào game, la cà ngồi quán để biếng học, để bê tha…và kể cả những thói hư tật xấu khác ). Mặc cho phụ huynh nhắc nhở, than phiền, thậm chí đã vắt ra từ trong con tim những lời yêu thương uất nghẹn vì con nhưng dễ gì con cái đã nghe theo. Điều này dần dà dẫn đưa các em dến một lối sống thực dụng, thiên về bản năng, nhẹ về lý trí (!?). Cái tác hại tất yếu này là một thực trạng nhức nhối hiện nay trong xã hội mà đa số gia đình phải gánh chịu đó là hiện tượng con cái sống buông thả, lý tưởng phấn đấu mờ nhạt, bất tuân cha mẹ (đôi khi cả thầy cô), xem cha mẹ là cái ba-ri-e cản đường dẫn đến đối kháng và lúc nào cũng muốn tháo bỏ cái vật cản đường đó để được tự do sống theo ý thích. Dần dà với những tác hại đó đã tạo nên mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái trong gia đình vì rằng ai cũng cho rằng lời nói, suy nghĩ và việc làm của mình bao giờ cũng đúng để càng ra sức bảo thủ hơn. Mâu thuẫn chất chồng mâu thuẫn! Có nhiều bậc cha mẹ phải thở than: “Ước gì con cái mình cứ mãi dừng lại ở tuổi lên 5 lên 3 để được vui lòng, chứ nuôi nấng chi đến hồi chúng nó “đủ lông đủ cánh” để mà làm gì. Quá thất vọng!”.
Thật vậy, hiện trạng “đau lòng” từ cả hai phía “con cháu” và “ông bà, cha mẹ” hiện nay đang đòi hỏi cần phải tìm ra một biện pháp giải quyết hữu hiệu và kịp thời. Vì nếu không thì gia đình sẽ mất hạnh phúc, có thể dẫn đến nhiều hệ lụy.
Chưa ai làm một thống kê thật đầy đủ nhưng chắc chắn rằng trong đời sống hiện nay, hiện trạng đạo đức trong gia đình, ngoài xã hội là một vấn đề thời sự nóng bỏng, nhan nhản trên báo chí, mà bất cứ ai nghe đến cũng đều phải đau lòng (!). Vì vậy vấn đề đạo đức trong thanh thiếu niên cần phải được xã hội quan tâm đặc biệt, phải tìm ra được một giải pháp hữu hiệu để uốn nắn kịp thời ngõ hầu đem lại một sự “vui lòng” đích thực cho tất cả mọi người.
Trở lại vấn đề, khi con cái còn nhỏ vì nhu cầu của bản thân chưa “đa hệ” nên ông bà, cha mẹ dễ làm thỏa mãn nhu cầu của chúng cũng là điều dễ hiểu. Và để đáp lại điều đó thì chuyện con cháu “biết làm vui lòng ông bà, cha mẹ” để đổi lại bản thân mình cũng được “vui lòng” xem ra cũng chỉ là chuyện bình thường. Bài học đạo đức trên dù có được một tác dụng thật to lớn nhưng suy ra cũng chỉ là sự phù hợp tất yếu với nhu cầu tự thân của đối tượng tiếp nhận khi ấy mà thôi. Giả sử nếu ta tiếp tục đặt vấn đề để tranh luận khi mà con cái đã lớn, thậm chí đã trưởng thành về ý nghĩa bài học đạo đức: “Làm vui lòng ông bà, cha mẹ ta được gì, mất gì đối với bản thân ?”, và “Không làm vừa lòng ông bà, cha mẹ ta mất gì, được gì đối với bản thân?” thì có lẽ câu trả lời sẽ rơi vào khoảng lặng, thậm chí là bế tắc (!). Chắc nhiều người ai cũng biết Đại danh y Hải Thượng Lãn ông qua tích lũy kinh nghiệm sống của bản thân đã để lại cho đời sau một công thức “sống” mà hễ ai giữ được cho mình thì sẽ sống vui, sống khỏe, sống có ích và sống có đạo đức. Công thức ây là phải giữ cho được 7 điều sau: “Bế tinh, dưỡng khí, tồn thần. Thanh tâm, quả dục, thủ chân, luyện hình”. Chỉ đơn giản vậy thôi mà thử hỏi về phía phụ huynh đã được bao nhiêu người thực hiện được để mưu ích cho bản thân mình và làm gương cho con cháu noi theo trong cuộc sống!
Theo quy luật biến thiên của vũ trụ thì mọi sự rồi sẽ đổi thay để được phù hợp hơn và được tồn tại. Nhưng chắc chắn một điều là những bài học đạo đức được tích lũy và quảng bá trên đời này sẽ là những phạm trù bất biến. Bài học đạo đức lớp 2 nêu trên và ngay cả những bài học đạo đức khác đang được toàn xã hội ra sức học tập là kim chỉ nam của hành vi ứng xử tốt đẹp giữa người với người mọi nơi, mọi lúc.
Hãy nhớ lai bài học đạo đức từ hồi lớp 2, để những người con trong gia đình đừng bao giờ làm rơi thêm nữa những giọt nước mắt “buồn lòng” của ông bà, cha mẹ như lời một phụ huynh đã viết trong “bài thơ cho con” sau đây. Giọt nước mắt ấy đã thổ lộ sự đau buồn vì con cái mình đến hồi “đủ lông đủ cánh” mà xem thường lời dạy bảo của cha mẹ mà cha mẹ chỉ với ước vọng duy nhất là làm sao cho con cái mình được nên người dù rằng tuổi của mẹ cha cũng đã đến hồi Thái sơn ngã bóng:
Vì bỡi con không quý trọng lời
Cha buồn, mẹ khổ lắm con ơi!
Sinh thành những ước khôn bằng bạn
Dưỡng dục hằng mong lớn kịp đời
Khản cổ cha khuyên: nên gắng học
Oặn lòng mẹ dạy: chớ ham chơi
Ví bằng chẳng quý lời cha mẹ
Nghĩ lại con ơi… hỏng cuộc đời!
(Bài thơ cho con – DTT)
Xây dựng một mô hình gia đình trong đó con cái ngoan hiền, hiếu thảo, giỏi giang…Ông bà, cha mẹ mẫu mực, yêu thương, biết nêu gương tổt… là đã góp phần tạo nên một tế bào tốt cho xã hội. Vì vậy mọi người nên chăng cần phải quan tâm hơn nữa và gắng tìm ra những giải pháp thật hữu hiệu, khả thi để góp phần nhỏ bé của mình vào cái chung to tát kia trong giai đoạn đất nước đang rất cần sự chấn hưng đạo đức để đổi mới và phát triển.
Tháng 6 năm 2010
Diệp Thế Thoại

Cao Bá Quát - Đấng tài hoa muôn thuở!

Có lẽ trong suốt cuộc đời khốn nạn, ba chìm bảy nổi …mà Cao Bá Quát đã trải qua thì cái ấn tượng ngạo mạn, khinh đời của ông đã được thể hiện rất rõ nét qua hai sự kiện văn học mà ngày nay vẫn còn được nhiều người biết đến với lòng khâm phục lẫn cảm thương đó là: Việc ông đã dõng dạc coi thường cái chết khi bước ra pháp trường , quẳng lại cho đời một câu đối tài hoa ngạo mạn:
“Ba hồi trống giục mồ cha kiếp
Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời!”
Sự kiện ngạo mạn thứ hai là việc ông đường bệ chê đôi câu đối do Vua Tự Đức sáng tác định treo ở Điện Cần Chánh trong dịp khánh thành để tri ân Tiên Đế cũng như thể hiện tài năng chữ nghĩa của một “ông vua thi sĩ” với quần thần (!) là “bất ổn, cương thường đã bị đảo lộn…”
Cũng vì xót thương cho kiếp tài hoa bạc mệnh bỡi bản án tru di tam tộc và cũng để bày tỏ lòng thán phục tột độ một tài năng thi phú và tư chất thông minh uyên bác của ông, người đời sau đã tôn vinh ông là Thánh Quát.
Chuyện xưa kể rằng: Vua Tự Đức là một ông vua thi sĩ, sính làm thơ văn lại là một người con rất hiếu thảo. Nhân dịp khánh thành Điện Cần Chánh là nơi phụng thờ tiên triều, để bày tỏ lòng trung nghĩa, hiếu thảo của một bậc đế vương, nhà vua đã tự đáy lòng mình sáng tác ra đôi câu đối để định treo thờ nơi chính điện tôn nghiêm:
“Thần khả báo quân ân
Tử năng thừa phụ nghiệp”
Dĩ nhiên với tài văn chương chữ nghĩa , thi phú của Tự Đức thì đây là kết quả của một cố gắng lớn, là một kỳ công nghệ thuật… khó ai bì kịp. Nhưng vì chính nhà vua lại rất khoái nghe một lời “khen” từ cửa miệng Cao Bá Quát trước khi cho sơn son thếp vàng để dâng lên Tiên đế nên đã đem câu đối này để khoe với “bạn văn chương”. Hỡi ôi, từ cửa miệng thi nhân lại thốt lên một lời chê không chút tiếc lời: “Bất ổn, bất ổn, cương thường đảo lộn, dứt khoát không thể dùng được…”. Không ai chứng kiến lúc đó nhà vua có bị toát mồ hôi hột vì long nhan đã bị làm kinh động hay không nhưng sự thể tiếp theo là nhà vua đã bình tĩnh cho gọi thi nhân vào để lục vấn. Và với tài năng thiên phú lẫn tư chất thông minh sẵn có, Cao Bá Quát đã lý giải tận tường và chữa lại chỉnh đốn cho đôi câu đối để đời tại điện Cần Chánh nhà Nguyễn:
“Quân ân thần khả báo
Phụ nghiệp tử năng thừa”.
Xét về mặt giá trị thì rõ ràng khi đã được chữa lại, câu đối đã được nâng lên đến mức tối đa về giá trị ngữ nghĩa và nghệ thuật thi pháp. Bằng sức học của mình, vua Tự Đức cũng kịp nhận ra sự yếu kém nhất thời về mặt chữ nghĩa của mình. Chính nhà vua đã hàm ơn Thánh Quát vì rằng: “Trí thông minh còn hơn cả nhà vua”.
Bằng một “nhát gươm” tài hoa, Thánh Quát đã kết liễu số phận của một câu đối mà tác giả lại chính là “đương kim Hoàng thượng Tự Đức”. Thực sự chữ nghĩa trong Cao Bá Quát lúc ấy đã tỏa sáng lung linh như ánh nến của đêm hội hoa đăng mà bối cảnh xã hội đương thời của ông là một đêm đen dày đặc(!). Ông cười cho kiếp người ngắn ngủi, vô vọng; cười vì thế thái nhân tình lắm nỗi trái ngang:
“Trói chân kỳ lý tra vào rọ
Rút ruột tang bồng trả nợ cơm!”
Và rồi cuối cùng cũng vì sự ngạo mạn và bất mãn lên đến tột đỉnh, không còn lối thoát ông đã bỏ nghiệp làm thơ để đi làm quân sư cho giặc Châu Chấu chống lại triều đình nhà Nguyễn .
Oái oăm thay, sự hạnh ngộ của “khách thơ văn “ cuối cùng trong cuộc đời ông với vua Tự Đức không phải là một cuộc tao phùng trong tư thế thi thơ nho nhã của bậc tài tử cao nhân giữa cung vàng điện ngọc…mà là một dáng hình trái khoáy trong thân phận của một kẻ tội đồ!
“Một chiếc cùm lim chân có đế
Ba vòng xích sắt bước thì vương!”
Hồi trống định mệnh đã kết liễu một kiếp tài hoa:
“Ba hồi trống giục mồ cha kiếp
Một nhát gươm đưa, bỏ mẹ đời!”
Thánh Quát đã đi vào cõi vĩnh hằng một cách đường bệ, đầy khí phách và thoang thoảng hương thơ. Ông mãi ngồi đó trên thi đàn của dân tộc để chứng kiến bao thăng trầm hưng phế của lịch sử …. Hậu thế chúng ta mãi mãi được chiêm ngưỡng nét tài hoa của ông trong kho tàng chữ nghĩa, trong sự nghiệp thơ văn rất ít ỏi còn sót lại sau bản án tru di tam tộc của ông.
Chỉ chừng đó hành trang, Thánh Quát đã bước vào dòng văn học nước nhà với dáng vẻ của một đấng tài hoa muôn thuở!
Tháng 8/ 2010
DIỆP THẾ THOẠI

CÂU CHUYỆN LỬA TÀN

Cuả Ông Hiệu trưởng trường Sư phạm Qui Nhơn nói với các khoá sinh khoá 11 thuộc trường trong “ĐÊM MÃN KHOÁ” hạ tuần tháng sáu bảy tư.
****

Anh chị em khoá sinh khoá 11 thân mến!
Đêm đã khuya, lửa cũng gần tắt. Trước khi chia tay, tôi muốn nói với Anh Chị Em đôi lời trong “câu chuyện lửa tàn “đêm nay.

Nhìn khu trường với những hàng thông trầm lặng từng chứng kiến bao bước chân Anh Chị Em đi về, những công viên hoa sứ nở muộn, những dãy hành lang heo hút gió đông hay phơi phới gió hè đẫn vào những căn phòng nội trú rộn ràng những buồn vui đèn sách và tình bạn ý quê, nghe mỗi khi đêm xuống từ lòng đại dương sóng xa vọng lại nhiều thương nhớ bâng khuâng, ưu tư vời vợi…
Những hình ảnh và âm thanh đó như thì thầm nhắc lại bao kỷ niệm vui buồn Anh Chị Em đã có nơi đây, gợi lại bao sinh hoạt đã cùng nhau tham dự: nào những tối cuối tuần ngồi bên chén trà “Hội hữu” hay”Bạn đường” nghe thơ nhạc hay nghe nhau kể lể chuyện đời, nào những ngày đi công tác xã hội hay thực tập giáo dục cộng đồng bận rộn với dân quê, những buổi du ngoạn tươi mát ý đời, những đêm văn nghệ rộn ràng niềm vui, cũng như những sáng chiều thường xuyên thảo luận, học tập về chuyên môn, v.v… Tất cả đều nói lên những tâm tình Anh Chị Em đã có với nhau, với ngôi trường này.
Sau đêm nay, Anh Chị Em sẽ rời ghế trường chia tay về hè để sau đó vào đời chứ không còn trở lại trường cũ như mùa thu năm trứoc. Chúng tôi cầu chúc Anh Chị Em gặp nhiều điều vui trong đời, những điều vui sâu xa từ trong lòng mà có hơn là từ bên ngoài mà nên.
Tục ngữ ta có câu “Câu chuyện nên quen, chuyến đò nên nghĩa “ Anh Chị Em đã cùng nhau đi chung một chuyến đò dài. Nay tuy chưa đến bến cùng của sông nước, nhưng mỗi người phải chia tay sang những con thuyền khác để lại tiếp tục hành trình dẫn tới quê hương xa.
Giây phút phân ly nào lại chẳng đượm buồn, và đó cũng là thân phận con người trên cõi thế. Nhưng, như trăng khuyết rồi tròn, ly hợp cũng là lẽ thường của cuộc sống, miễn sao trong cách xa mà vẫn không xa cách và miễn sao mỗi đổi thay đều mang mãi một chiều hướng. Anh Chị Em hãy chấp nhận nỗi buồn cách xa trong tim mong vẫn còn những niềm vui gặp gỡ đây đó trên bước đường nghề nghiệp, ở một nẻo nào trên giải đất quê hương này.
Đời Anh Chị Em còn dài, dài đủ để không uổng công thắp sáng niềm tin trong đêm tối thiếu những ánh trăng sao soi dẫn bước chân Anh Chị Em đi.
Tuổi Anh Chị Em còn trẻ, quá trẻ để còn đủ thời gian tự làm lấy cho mình những gì mình mơ ước. Với tuổi đôi mươi, chẳng có gì là muộn. Tất cả đang chờ đón Anh Chị Em: tình yêu để yêu, tình bạn để thương, tình quê hương để nhớ, những nguyện vọng để thực hiện, nghề nghiệp để phụng sự, v.v…nghĩa là cả một cuộc đời để sống, để xây lên, hoặc nếu cần, để dựng lại…
Mỗi thế hệ có những vui buồn, những ưu tư riêng, và mặc dầu thế hệ này có liên quan với thế hệ khác, nhưng không nên cho rằng thế hệ này không làm được gì hơn thế hệ khác. Than trách hay quy lỗi không phải là triết lý đẹp của một hướng sống cao. Mỗi người trẻ hãy tự nói với mình “dậy mà đi”, dù quê hương có đang đổ nát mênh mang vì bom đạn vẫn chưa thôi trên mảnh đất nhỏ bé này, dù xã hội có đang phân hoá tàn tạ vì cảnh tương tàn thê lương đã kéo dài hơn hai mươi năm qua.
Anh Chị Em hãy “dậy mà đi” từ “đêm bây giờ” để tiến đến “đêm mai”, như Trịnh Công Sơn thuộc khoá đàn anh của Anh Chị Em đã hat lên rát chân tình:
“Đêm bây giờ đêm quá hư vô,
Oi con người mang trái tim khô.
Đêm bây giờ thắp sáng âu lo,
Hai mươi năm buồn vui hững hờ.
Đêm thôi dài cho mai này,
Người Việt hái lúa ngoài đồng chín.
Đêm no lành, đêm thanh bình,
Người Việt sống như chưa bao giờ”.

Như vậy”đêm bây giờ” dù “quá hư vô”, chỉ mang “trái tim khô” với những “âu lo” và “buồn vui hững hờ” cũng chắng có thể làm cho Anh Chị Em buồn nãn, vì rằng đêm mai này mới là của Anh Chị Em để hướng tới, để xây lên, để dựng lại, để “sống như chưa bao giờ “.
Tôi nhắc lại ý vừa diễn tả: Anh Chị Em hãy dậy mà đi, lạc quan vào đời, và tích cực góp phần mình vào việc xây dựng đời.
Trước giờ chia tay, tôi cũng muốn nói lại với Anh Chị Em một ước mong chan chứa ưu tư này của trường. Chúng tôi ước mong rằng dù hoàn cảnh đời mỗi người chúng ta như thế nào, khi đã dấn thân vào một nghề là chúng ta phải chọn lấy cho mình một hướng đi đầy ý thức. Làm thân con người chẳng ai có tự do vô điều kiện, ngoại hoàn cảnh giới hạn. Cho nên giá trị của con người tự do là chấp nhận cái mình chọn, và như vậy giá trị ở thái độ chọn hơn là điều chọn hay phải chọn.
Tôi tin rằng sau hai năn học ở trường này, Anh Chị Em đã thấy rõ hướng đi phải có của cuộc đời. Mai đây trên bước đường phụng sự , cầu chúc Anh Chị Em ngày càng vui yêu nghề, và làm được những gì Anh Chị Em muốn làm trong khả năng của mình.
Tôi cũng tin rằng trong một tương lai không xa đất nước chúng ta phải được thanh bình. Khi đó, và ngay cả khi này, cánh đồng văn hoá giáo dục cần nhiều nông phu, những người đổ mồ hôi trên từng mảnh ruộng để cày, bừa, gieo, cấy, đợi mùa gặt đến đem vui tươi, no ấm cho các xóm làng thân yêu.

Đêm đã khuya, lửa cũng gần tắt, tôi đã nói gì với Anh Chị Em trong “câu chuyện lửa tàn” đêm nay?
Một lần nữa, nhìn lại khu trừơng với những hàng thông trầm lặng từng chứng kiến bao bước chân Anh Chị Em đi về, những công viên hoa sứ nở muộn, những dãy hành lang heo hút gió đông hay phơi phới gió hè dẫn vào những căn phòng nội trú rộn ràng những buồn vui đèn sách và tình bạn ý quê, nghe mỗi khi đêm xuống từ lòng đại dương sóng xa vọng lại nhiều thương nhớ bâng khuâng, ưu vời vợi…
Những hình ảnh và âm thanh đó như vẫn thì thầm nhắc lại bao kỷ niệm vui buồn Anh Chị Em đã có với nhau, với ngôi trường này .
Mai đây trên vạn nẻo đường đời, có khi nào tưởng lại quãng thời gian cuối cùng của những ngày đèn sách, có lẽ những hình ảnh và âm thanh trên sẽ còn đậm ít nhiều nét sống vấn vương bên lòng Anh Chị Em, chứ không đến nỗi tàn phai như những vang bóng một thời bị chìm quên vào dĩ vãng.
Anh Chị Em hãy thỉnh thoảng nhớ đến trường cũ, và nhất là luôn nhớ đến nhau, nâng đỡ nhau trên những bước đường đời.
Trong quãng ngày Anh Chị Em sống nơi đây, chúng tôi không nghĩ là đã làm được tất cả cho Anh Chị Em, nhưng chúng tôi đã hết lòng với Anh chị Em.
Phần Anh Chị Em trong hai năm qua đã cùng nhau đi trên một chuyến đò mà trong hành trình có những chiều xuống, đêm về dừng nghỉ ở nhiều bến nước, ngắm trăng thanh đón gió mát cho vui lên bước giang hồ mà vẫn nhắn nhủ nhau rằng những bến nước ấy chưa phải là bến cùng của quê hương xa.
Nay chuyến đò chung đã đến lúc rẽ bến. Mỗi lữ khách phải rời đò để đi tiếp lộ trình còn dài. Chặng đường sẽ vắng vẻ hơn, và lữ khách sẽ cảm thấy thấm thía nỗi cô đơn trên đường đời. Nhưng Anh Chị Em nên nhớ rằng thân phận con người là cô đơn. Trong cô đơn ta gặp được mình, ta gặp được người, ta gặp được Trời. Nhưng cô đơn mà đừng cô độc. Muốn vậy Anh Chị Em hãy luôn nhớ đến nhau, nâng đỡ nhau trên những bước đường đời.
Trải qua nhiều năm sống, rồi Anh Chị Em sẽ học được kinh nghiệm sâu đậm này là chắng có gì quan trọng trong đời ngoài tình thương mến nhau.
Tình thương mến ấy như “trăng sáng trên môi hoa” “xua bóng tối trong hồn ta” để “tìm về bên nhau” và để “tình người nở đêm sâu”như Đăng Lan hát trong “Thương quá Việt Nam”:

“Trăng sáng ngời trên môi hoa,
Trăng lên tiếng hát vui đêm già,
Trăng sáng ngời trên non xa,
Trăng xua bóng tối trong hồn ta.
Sáng lên trăng, sáng lên trăng
Sáng cho tình người nở đêm sâu.
Trăng muôn đời, trăng muôn nơi,
Trăng đem bóng mát cho muôn người,
Trăng thanh bình, trăng yên vui,
Oi thương quá ánh trăng Việt Nam”.

Trên đường đời sẽ có nhiều đêm không có ánh trăng sao, nhưng trong lòng chúng ta ánh trăng chẳng bao giờ tàn, vì mãi mãi chúng ta vẫn có lòng thương mến nhau.
Anh Chị Em thương mến,
Trên con đường nghề nghiệp đã chọn , Anh Chị Em hãy can đảm bước lên. Niềm tin của Anh Chị Em ấy là niềm tin của chúng tôi và cũng là ý đợi của quê hương này.
Cuộc đời là một đi tìm để được gặp, và trên hành trình tìm gặp đó, hành trang của chúng ta phải đủ nhưng đơn giản, trút bỏ những giận ghét vẩn vơ, những bận tâm vô ích, những so đo nặng nề… để được nhẹ nhàng như cánh diều nương gió lên cao.
Thương mến từ biệt Anh Chị Em!
Hiệu Trưởng
Trường Sư phạm Qui Nhơn
TRẦN VĂN MẪN
(Gõ lại nguyên văn trên trang in ronéo năm 1974 hiện còn lưu giữ - T.DIỆP-K11)

DỊCH BÀI "TUYỆT BÚT"CỦA CHÍ SĨ LÊ THÀNH PHƯƠNG

Gửi tấm lòng son lại núi sông
Tuổi già ôm hận xót xa lòng
Chó điên bán nước trò xâu xé
Cọp dữ nay đà bị khớp răng
Tổ quốc đau lòng cơn sỉ nhục
Anh hùng chi quản bước gai chông
Lìa đời đâu dễ thân này mất
Linh hiển ngàn sau hộ chiến công!
(giải thưởng TC Văn nghệ Phú Yên năm 1991)
Diệp Thế Thoại

*************

Nguyên tác TUYỆT BÚT
của Lê Thành Phương
Nhất sinh quyền nguyện vãn sơn hà
Thế sự thương mang thống hận da
Thậm tắng cẩu cuồng tranh mại quốc
Khả lân hổ mãnh hãm khuy nha
Anh hùng mạc quản doanh du luận
Tổ quốc hà cô sỉ nhục ta
Xu thể cách tinh linh bất một
Trường kỳ mặc tướng hậu đào ba!

QUÂN TỬ LÚC CÙNG THÊM THẸN MẶT(Phú Đường luật)

Ngẫm sự đời;
Chẳng ai giàu ba đời
Mấy kẻ khó họ!
Nhớ lại thuở còn lắm tiền nhiều bạc, dẫu đúng sai vẫn tớ tớ thầy thầy
Nhìn sự nay đã cháy túi khô xu, mặt có rửa vẫn lem lem lọ lọ!
Chẳng dám là cầy, tự xưng rằng chó
Miếng ngon ngọt cố quên đi chuyện cũ, lớp tang thương cam chịu lấy mệnh trời,
Vị chát chua chép lưỡi sống qua ngày, chữ dâu bể gượng vui cùng cái khó!
Thế mới biết được nhân tình thế thái: Thớt không tanh ruồi đậu đến làm chi
Giờ đã hay tình bằng hữu đệ huynh: Thà ngoảnh mặt để khỏi vương chữ khổ!
Úa màu lá chết ngày xưa, xanh sắc rêu thềm năm cũ!
Ruột héo hon khi nắng hạ về chiều, lòng tê tái lúc trời đông trở gió
Thói phong vận từng quen quần áo đẹp, buổi cơ cùng đành xốc xếch lôi thôi
Nếp thanh lương vốn chọn miếng ăn ngon, lúc kham khổ nên lỡ nhai lỡ nhổ!
Mắm dở mấy ve, cà non một rổ
Cơm lưng bụng dẫu thẹm không dám tưởng, món cao lương mĩ vị biết còn khi,
Áo ố màu, dù muốn có chi chờ, hàng Mỹ Nhật Tàu Tây không dám ngó!
Khổ bỡi vì không, sướng là cái có
Nhìn thiên hạ sực mùi hương thế tục, bỡi bon chen nên lắm bạc nhiều tiền
Ngẫm mình nay giãy chết giữa trần gian, vì chữ hậu luóng tường xiêu ngói đổ!
Vai mang túi bạc kè kè nên lắm kẻ tưởng người thương,
Lòng giữ nhân cách khư khư hóa nhiều người xiên kẻ xỏ!
Ấy ai rực rỡ đóa hồng
Ta hồ đìu hiu ngọn thỏ!
Thẹn mặt bấy lúc cùng căn mạt kiếp, lòng hiếu tư dù có cũng bằng không
Hổ lòng thay khi túng kế sa cơ, cái hiểu biết cũng hóa ra đồ bỏ
Hằng tu niệm tìm lành lánh dữ, bỡi vì đâu nên héo ruột bầm gan
giữ thiện tâm cầu phú diệt bần, rằng cớ sự cũng mòn hơi khản cổ!
Chữ nghĩa mấy dòng, tâm hương một bó
Niềm tương cảm dẫu lúc còn khi mất, sống rằng khôn lúc thác cũng là thiêng
Nỗi oặn lòng dù nói chẳng hết lời, sự linh ứng hãy cho mau trúng số!
Kỉ niệm buồn, thế thái nhân tình...tháng 2/1994
Diệp Thế Thoại

RU ĐỜI NGỦ GIẤC TRĂM NĂM

Bỏ, bỏ hết không còn gì để tiếc
Dù vàng ròng, bac nén với kim cương
Quên quên hết không còn gì để tưởng
Dù nhũ hương, mộc dược chốn thiên đường!

Đời là thế, biết làm sao khác được
Đem cần lao, trí lực với lương tâm
Đã trút hết cho nghĩa tình sau trước
Để riêng mình sầu tủi với trăm năm!

Cọn một chút hương tàn hoa nhụy rụng
Bướm vàng bay đến đậu để làm chi
Thôi xin được một lần không rẻ rúng
Đời thiên thu tóc trắng có ra gì!

Xin khép lại cõi lòng thương cảm ấy
Lệ sầu bi khôn rửa được hờn căm
Chắp tay lai, thôi đời là như vậy
Ru giấc mình ngủ mãi cõi trăm năm...

(Vừa buồn, vừa nhục vừa đau,
đời cha ôm trọn nỗi sầu thiên thu...)
08/6/2011
Diệp Thế Thoại

BỐN GIỜ SÁNG THỨC GIẤC...

(Tặng Tuyết Trinh)
Bốn giờ sáng thức giấc
Thấy mình trơ trọi trên chiếc giường tầng
Gió thật lạnh
Phía dưới thằng bạn vẫn im ngủ
Nội trú buồn thiu
Im lặng...im lặng
Mình cũng không hiểu đã về đây tự bao giờ
Và tại sao lại là đêm nay ?
Tất cả không phải là điều đó
Khi chấp nhận cuộc sống khắc khổ này
Hai bữa cơm rau nuốt không nổi
Muỗi vo ve đói khát
Nước nhà cầu tàn tạ dung nhan
Anh đã mất
Vẻ đẹp ngày nào
Bộ lông hồng mùa xuân em mặc
Giờ đây
Im lặng, im lặng
Mùi hôi của tấm drap
Hơn hai tháng không giặt
Anh suy nghĩ mình tội lỗi
Vì không giữ gìn bản thân
Như điều em mong muốn

Bốn giờ sáng thức giấc
Thấy mình thật trẻ con
Cần có bàn tay ôm ấp của mẹ
Gió rít, gió gào...
Qua khung cửa thấp
Thầm gọi tên em
Nhưng đã bao lần cố hình dung
Anh vẫn không tìm được
Nét mặt ngây ngô của em
Hay anh đã mất
(Anh đã hình dung được rồi
và mười phút im lặng...)
Nhưng sáng nay
Em đã làm chim bay...
(Viết tại nội trú SPQN-tháng 2/1972)
Diệp Thế Thoại

VIẾNG CHÙA MINH SƠN

(Kính trao về Thầy Thích Tâm Thủy)

Minh Sơn chùa cũ vẫn còn đây
Dù bụi thời gian nhuộm tháng ngày
Vững chải thạch bàn bên vách núi
Trường tồn Phật đạo giữa trần ai
Cao cao bậc đá chân không mỏi
Lồng lộng rứng cây bóng chẳng lay
Tháp cổ còn ghi công đức cũ
Hương trầm phảng phất giữa trời mây!

Diệp Thế Thoại

VIẾNG CHÙA PHI LAI(*)

(Kính trao về Thầy Thích Thiện Đạo)

Giữa cuộc trần ai bận rộn nhiều
Phi Lai cổ tự chẳng hề xiêu
Trùng tu dáng cũ còn quen thuộc
Kiến tạo thời tân nét mĩ miều
Mến đạo nâu sồng vui khổ hạnh
Yêu đời phô sắc gấm huê thêu
Những mong bể khổ thuyền xuôi gió
Tiếng mõ hồi chuông sớm lại chiều!
Diệp Thế Thoại
(*) Chùa Phi Lai xã Hòa Thịnh, Tây Hòa. Phú Yên

VỀ VỚI NHÀ CHA

(kính trao về ĐC Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản)
Về với nhà Cha mấy dặm đi
Thánh đường Hóc Gáo dáng uy nghi
Nền xưa hiệp ý cầu kinh nguyện
Chốn cũ sum vầy hết biệt ly
Mến Chúa chu toàn gương bác ái
Yêu người tín nhiệm lượng từ bi
Tái lâm ngóng đợi ngày vinh hiển
Gian khổ chông gai kể sá chi!
(Hóc Gáo-1995)
T.diệp

KHÚC CA TÌNH MẸ

À ơi tiếng mẹ ru hời
Sinh thành ơn nặng, biển trời sánh đâu
Trải bao mưa nắng dãi dầu
Cù lao chín chữ đậm màu tuyết sương
Sinh ly tử biệt đôi đường
À ơi khúc hát đoạn trường từ đây!
Tóc vừa bạc trắng màu mây
Lễ mừng thọ mẹ còn đây tủi lòng
Những điều con ước con mong:
Hiếu tư cùng mẹ trả xong dễ gì
Giọt buồn con nặng bờ mi
Giọt thương con biết mẹ ghi vào lòng
Xin cho tạnh giọt mưa đông
Mẹ ơi thanh thản giữa dòng tiễn đưa
Ru con tình mẹ ngày xưa
Mẹ ơi hãy ngủ bây giờ con ru
Vĩnh Hằng là cõi thiên thu
Ngàn năm yên nghỉ con ru mẹ về...
Ngày Mẹ qua đời (18/9/2004 âl)
Diệp Thế Thoại

Thương nhớ bạn thơ

Thế là bạn thơ Lê Xuân Huy đã ra đi về cõi vĩnh hằng vào ngày 6/4/2003 ở tuổi 52 - tuổi "ngũ thập tri thiên mệnh". Anh ra đi để lại bao niềm nuối tiếc cho bạn bè vì sự trân trọng thơ và yêu thơ của anh.
Lê Xuân Huy biết làm thơ từ thời còn học trung học - cái thời mộng mơ cháy bỏng của tuổi vừa mới lớn. Dần dà sự yêu thơ cũng như sự thành công đôi chút trong sáng tác thơ đã khiến anh cứ đeo đuổi mãi cái nghiệp thơ cho đến ngày nhắm mắt. Thơ anh sáng tác không nhiều, cũng chưa in thành tập, chỉ đăng rải rác ở các báo và các tập san nhưng cũng đủ để nói lên cái tâm trạng của người làm thơ, đó là: sự trân trọng những rung cảm trước vẻ đẹp của tạo hóa và của tình người.
Với nghề nghiệp chính là giáo viên dạy tiểu học, vào ngành từ năm 1974 (SP Quy Nhơn K.11) đến nay đã trải qua gần 30 năm cùng bảng đen phấn trắng và bao lớp đàn em thân yêu. Là một người thầy giáo, chỉ với một chút nắng sân trường cũng đã làm lòng anh trào dâng xúc cảm:
Đã qua rồi những kỷ niệm xa xôi
Chỉ còn lại em thơ trên sân trường rợp nắng
Cũng đủ ấm lòng anh - người giáo viên thầm lặng
Ươm mầm xanh, che bóng mát cho đời... (Lê Xuân Huy - Nắng sân trường)
Lại nữa, Hồn thơ trong anh luôn thôi thúc, khuấy động không bao giờ để cho anh có được một phút giây ngơi nghỉ. Giữa bao bộn bề của cuộc sống đời thường, hằng đêm bên ngọn đèn chăm chút từng trang giáo án cho giờ lên lớp...nhưng chỉ một làn gió nhẹ thoảng qua thoảng chút hương thầm cũng đủ làm cho anh viết lên thành lời:
Anh hiện thân một gã cuồng ngông
Đường phiêu bạt một thời rong ruổi
Gót lãng du dọc đường quỵ gối
Gặp được em đánh thức một hồn thơ... (Đánh thức hồn thơ - Lê Xuân huy)
Chỉ có anh mới trân trọng thơ đến như thế. Lúc sinh thời hễ có thơ đăng báo thì anh hoặc cắt rời ra hoặc photo dán vào một tập rồi đem khoe với bạn bè. Thú thật, với hình thức này trong số bạn bè ít có ai làm được như anh. Hay có lẽ chính đây là dấu hiệu báo trước về một sự ra đi đột ngột để rồi sau này mỗi khi nhắc đến "thi sĩ" Lê Xuân Huy thì chính đây lại là bằng chứng(!)
Thôi nhắc làm gì những kỷ niệm một thời đã qua! Khi ly rượu, lúc chung trà, câu chuyện hàn huyên, buồn vui dài mãi... mà chỉ có bạn bè SPQN thời ấy mới thấu hiểu hết nỗi lòng nhau. "Câu chuyện lửa tàn" trong đêm mãn khóa năm 1974 của Thầy Hiệu trưởng Trần Văn Mẫn vẫn luôn là nguồn động viên, an ủi, đỡ nâng những cô cậu giáo sinh SPQN trong cái nghiệp làm thầy...
Trong những nỗi buồn riêng, bạn bè đã tiễn đưa anh về cõi vĩnh hằng, được chứng kiến thực tế cái cảnh "sinh ly tử biệt" với những giọt nước mắt của người ruột thịt trong gia đình anh. Buổi trưa hôm đó mọi người ra về trong sự "nên thơ" của ngọn gió nồm Núi Lá:
Ngọn gió nồm mùa hè
Xua tan cái oi nồng
Cơn giông vừa ập đến
Ngát khoảng trời trong xanh

Đồng vàng trơ gốc rạ
Đã hóa thành sân chơi
Cánh diều lên trong gió
Quẫy đuôi ngang lưng trời... (Ngọn gió - Lê Xuân Huy)
Thơ của anh viết rất thật, không vướng vấp sự cường điệu, khuôn sáo. Nếu nói "thơ chính là người" thì ai đó chỉ cần tìm đọc một vài bài thơ của anh cũng đủ biết về anh.
Chiều nay, ngồi viết vài dòng "thương nhớ bạn thơ" rồi tìm đọc lại một vài bài thơ còn lưu giữ của anh, tôi lại thấy bao nỗi buồn tự nhiên tan biến. Làm sao buồn cho được khi nhìn di ảnh của anh vẫn còn nguyên vẹn nét tươi vui:
Ngồi bên trang viết dở
Cơn gió chiều đi qua
Cửa lòng tôi hé mở
Kéo niềm vui vào nhà...(Ngọn gió - Lê Xuân Huy)
Và từ trong khung ảnh, thoảng khói hương trầm, anh đang ung dung nhìn bạn bè đến viếng anh thật đông, thật vui - một cuộc thăm viếng trọng đại mà trong suốt quãng đời khi còn sống anh chưa có được bao giờ!
Tháng 4/2003
Diệp Thế Thoại - K.11SPQN

Vào cuộc say Kiều

CHÉM GIÓ ĐÈO
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao (Kiều, câu 2168)
Vai nặng non sông gác mái chèo
Măm dài tháng rộng cảnh gieo neo
Tấc lòng cố quốc mơ duyên gấm
Rộng mối tơ vương tủi phận bèo
Thân thế ngậm ngùi cơn gió giật
Mười phương hờ hững bóng trăng treo
Thước gươm hồ thỉ nam nhi trái
Cao chín tầng mây chém gió đèo!

thăm lại trường xưa

...bạn cũ, trường xưa...xin đừng trách ta bội bạc. Dù chuyến đò đã đến lúc phải rẽ bến để lướt đi trên sóng to, gió cả, nhưng sao lòng ta vẫn mong được một lần trở về bến cũ - nơi đã từng cắm sào để nghe thấm nỗi cô đơn...

Thăm lại trường xưa cảnh đổi dời
Trước sân lạc lõng một mình tôi
Hành lang gợi nhớ niềm tâm sự
Nội trú còn in tiếng nói cười
Bạn cũ: chim trời tung cánh vỗ
Thầy xưa: biền biệt chẳng tăm hơi
Vẳng nghe sóng vỗ chiều Ghềnh Ráng
Thấm nỗi cô đơn lệ sụt sùi!

QUY NHƠN - 1979
Diệp Thế Thoại - K11

TRỞ LẠI TRƯỜNG XƯA

(Tặng bạn bè ban C Nguyễn Huệ ngày cũ – 1972)

Tóc điểm bac, trường xưa ta trở lại
Áo học trò vẫn đẹp những ngày xanh
Phượng cứ nở … cho hồng trang kỷ niệm
Tuổi thần tiên một thuở dệt nên tình !

Ngồi xích lại gần nhau thêm tí nữa
Chuyền cho nhau ấm lạnh buổi hàn huyên
Đốt điếu thuốc, bạn bè ta điểm mặt
Gọi tao-mày…kỷ niệm vẫn còn nguyên

Còn nguyên đó bảng đen cùng phấn trắng
Dãy ghế bàn in vết bụi thời gian
Kính yêu lắm ơn thầy trên bục giảng
Lưu bút buồn còn đọng tiếng ve ran …

Còn nguyên đó, dãy hành lang vắng lặng
Buổi tan trường tí tách giọt mưa thưa
Trong hương gió phất phơ tà áo trắng
Gõ nhịp đều lốc cốc dấu chân xưa…

Ta lặng ngắm dải mây mờ tím ngắt
Trôi lững lờ về tận phía trời xa
Nghe trong gió tiếng ngựa phi thần tốc
Thuở Quang Trung bình định dải sơn hà…

Ta tìm lại giữa ồn ào phố thị
Chút yên bình, tĩnh lặng của ngày xưa
Một giọt nắng cũng khiến lòng xao xuyến
Tuổi học trò rung động những vần thơ!

********

Ta trở lại giờ đây ta trở lại
Tìm dấu yêu trên vết cỏ sân trường
Dẫu nhoà nhạt những ảnh hình xưa cũ
Tuổi học trò kỷ niệm mãi còn vương…

Diệp Thế Thoại

Nghĩ về thơ...

Với sự sống thơ là hơi thở
Với dòng đời thơ là nhịp đập của con tim
Với tình yêu thơ là men rượu
Với riêng mình thơ chính là em.

Rất đơn sơ không cần mài giũa
Vẫn là thơ khi sức sống căng tràn
Như màu xanh vô tận của không gian
Của biển cả ngàn năm ầm ĩ sóng

Thơ có thể từ dòng đời sôi động
Đến suy tư trăn trở những đêm ròng
Rực rỡ bình minh trải ánh xuân hồng
Hay giọt lệ mắt ai còn nóng bỏng...

Không yêu đời đâu cần làm thơ
Người cô đơn cần tìm đến thơ
Để thấy rằng mình không cô độc
Sẽ là thơ trong thần tượng để tôn thờ

Xuyên qua số phận nàng Kiều
Là bài thơ khóc Đạm Tiên tiết Thanh minh ngày ấy
Ngọn sóng Tiền Đường không dìm nổi
Men tình quyện chặt với men say

Người làm thơ cần một thứ tình yêu
Không son phấn điểm trang loẹt lòe hương sắc
Mà một thứ tình yêu quyện chặt
Giọt tri âm trong mỗi trái tim người

Người làm thơ cần những buổi chiều
Khi ngày chưa tàn mà đêm chưa đến
Cái thời khắc của suy tư vĩnh viễn
Chiều tương tư, chiều tiễn biệt nhớ nhung nhiều

Đến kết cục thơ vẫn là hơi thở
Của dòng đời rộn rã tiếng thời gian
Ngàn năm trước, ngàn năm sau thơ vẫn thế
Tiếng lòng
thơ
giai điệu của cung đàn...

(chiều nhạt nắng bên khung cửa sổ - 1985)
Diệp Thế Thoại

Thơ trào phúng

HƯỞNG ỨNG ĐỀ XƯỚNG
CỦA CỤ HÀ HOÀ ÍCH
tự NHẬT THÀNH
(V/v sáng tác thơ văn chủ đề theo 4 câu tục ngữ tại Thư mời ngày 15/4/20008, thể loại thơ Trào phúng, thất ngôn bát cú Đường luật. Sáng tác của DIỆP THẾ THOẠI)

Bài 1: ĂN CẦN Ở KIỆM

ĂN CẦN Ở KIỆM thế mà hay
Không rượu, không men cũng khiến say
Cơm nguội đỡ lòng thêm chắc dạ
Cà dưa ngon miệng bụng căng đầy!
Tích y phòng rét, còn câu sách
Tích cốc phòng cơ, có chữ thầy (*)
Sách dạy, thầy khuyên, cha mẹ dặn
Ghi lòng, tạc dạ chữ vàng đây!
*
Chữ vàng tạc dạ, dám sai đâu
Suy cổ luận kim, chuyện trước sau:
Dương Lễ nổi chìm duyên nợ nặng
Lưu Bình chung thuỷ nghĩa ân sâu (**)
Kiệm cần đáng mấy niềm thương cảm
Chia sớt vơi bao nỗi khổ sầu
Nhắn nhủ những ai chưa biết đủ
ĂN CẦN Ở KIỆM, khắc ghi câu!
Diệp Thế Thoại

(*) Thành ngữ “Tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”
(**) Nhắc về tình bạn Lưu Bình, Dương Lễ


Bài 2: ĂN NO MẶC ẤM

-“...Đường xưa nghịch nẻo bon chân ngựa,
Chốn cũ phai hương nhạt sắc màu!...”(DTT). Riêng trao về Huệ Nguyễn tiên sinh bài thơ này với lòng quý trọng và ngưỡng mộ vì mối “tình thơ” ngày cũ.
( Tháng 6/2008 ,Diệp Thế Thoại)


Ai ơi MẶC ẤM với ĂN NO
Xót kẻ sa cơ , lỡ chuyến đò!
Manh áo Nàng Bân đem sẻ bớt
Bát cơm Phiếu Mẫu, nhớ dành cho! (*)
Thương người như thể thương thân vậy
Sẻ áo nhường cơm chớ đắn đo!
Chín bậc phù đồ cao sánh núi
Đâu bằng Đức lớn với Nhân to!
*
Nhân to, Đức lớn nhớ trau dồi
Giữa chốn phù sinh một kiếp người
Sinh ký gắng gìn câu “tải đạo”(**)
Tử quy mới được chữ “mười mươi”(***)
Đội trời đạp đất ơn cao trọng
Nào phải mang thân phận tép rươi
Nhân Nghĩa Hiếu trung luôn gắng giữ
Chớ nên bắt chước lũ đười ươi!

Diệp Thế Thoại

(*) Các điển tích dân gian nói về việc nhường cơm sẻ áo quen dùng
(**) Sách Thánh hiền có câu “văn dĩ tải đạo”
(***) Thành ngữ chỉ trăm tuổi già



Bài 3: ĂN NÊN LÀM RA

ĂN NÊN tất yếu phải LÀM RA
Tạo dựng cơ ngơi cửa với nhà:
Cửa chớp hàng hàng khoe phấn bích
Mái vòm chót vót điểm chu sa! (*)
Qua rồi cái thuở còng lưng mẹ
Đã hết một thời rách áo cha!
Rượu quý, bia ngon cùng thuốc cán
Tha hồ, thả sức hát “ca-ra”!
*
“Ca-ra” thì phải biết ô-kê (**)
Cất giọng ai ai thấy cũng mê
Rướn cổ cả ngày, yêu nét nhạc
Há mồm suốt buổi, mến tình quê
Câu thương trót lỡ tình ngao ngán
Sợi nhớ đa mang dạ não nề!
Tận hượng sự đời cơn thác loạn
Đừng quên phòng chống hát-i-vê!

Diệp Thế Thoại

(*) Chu sa, phấn bích, những màu sắcsặc sỡ loè loẹt, ám chỉ khoe khoang sự giàu có
(**) Phiên âm tiếng Karaoke

-------------------------------------------------------




Bài 4: ĂN NGON MẶC ĐẸP

ĂN NGON MẶC ĐẸP hưởng sang giàu
Khổ tận, cam lai bắc nhịp cầu
Thuốc cán thơm râu dường xả khói
Bia lon tức bụng tưởng mang bầu
Rung đùi tiếp cận đời sung sướng
Vỗ túi ly khai kiếp khổ sầu
Ngất ngưởng chín tầng mây chót vót
Gan ruồi mỡ muỗi (*)với cao lâu!
*
Cao lâu, mỡ muỗi với gan ruồi
Cho thoả ngày qua trải ngậm ngùi
Mang kiếp cùng đinh, luồn lẫn cúi
Gặp thời mạt vận, rúc cùng chui!
ĂN NGON: nhấm nháp, nhâm nhi, nhậu
MẶC ĐẸP: xênh xang, xúng xính, xài
Gấm vóc, lụa là, sâm với yến
Cho đời rạng rỡ nét xuân tươi!

Diệp Thế Thoại

(*) Lấy ý trong bài ca dao “Thách cưới”: Gan ruồi mỡ muỗi cho tươi… để chỉ những món ăn ngon nhất trên đời (!)

TA VỀ SOI LẠI BÓNG MÌNH

Lê bước chân trần
Trên đường cô độc
Soi bóng mình giữa trầm mặc suy tư
Chỉ thấy trong tận cùng của tột đỉnh bơ vơ
Thất thểu một bóng dáng nàng Kiều
Với những cánh hoa tan tác

Những phong gấm rũ là
Cao tường kín cống
Dẫu không nhạt nhòa bỡi lớp bụi thời gian
Cũng lênh đênh như mây trôi bèo dạt
Nét tàn phai là quy luật của tồn sinh
Trời thì cao mà đất thì xa
Thời gian như bóng câu ngang qua cửa sổ
Cứ ôm trọn nỗi ngậm ngùi khi tóc đã hoa râm

Đứng lặng câm
Trên thảm rêu êm của hoang sơ tạo vật
Để quên đi nỗi khóc thầm
Và cả những khôn nguôi nỗi nhớ
Soi bóng mình giữa mây gió trăng sao
Hoa đồng cỏ nội
Chỉ thấy sừng sững một Nguyễn Du tóc bạc
Sợi khói thi ca mờ dấu bụi quan hà
Trời thì cao mà đất thì xa
Thời gian như bóng câu ngang qua cửa sổ
Một chút rượu nồng khi chiều chưa tắt nắng
Dẫu không chuếnh choáng hơi men
Cũng đủ ấm tình người...

Diệp Thế Thoại

Có một chiều mưa...

Mưa xuống chiều nay lạnh rất nhiều
Để người xa lạ phải cô liêu
Nặng mang tâm sự buồn năm tháng
Ai biết lòng ta nghĩ ngợi nhiều!

Gió tạt ngoài song tí tách mưa
Niềm riêng biết nói mấy cho vừa
Lần theo lối mộng vào quên lãng
Để hồn sống lại những ngày xưa

Chiều mưa che khuất nẻo quê nhà
Mù mù mây phủ núi đồi xa
Quê hương ai khóc chiều mưa ấy
Trong mảnh hồn ta nét ngọc ngà!

Ai đã cùng ta phút cảm thông
Cho nhau vị ngọt với hương nồng
Cùng chung tâm sự buồn năm tháng
Đời mình như chuyện những dòng sông

Biết đến bao giờ mới gặp nhau
Buồn vui kể lại chuyện ban đầu
Người đi xây đắp đời tươi đẹp
Kể làm chi nữa qua thương đau

Ta cũng là người trai lãng tử
Mòn gót chân dừng lại chốn này
Bỗng một chiều mưa buồn viễn xứ
Rượu giang hồ uống chẳng hề say!
Qui Nhơn 1972
Diệp Thế Thoại

tự trào

tự trào
Mấy chục năm qua vẫn giáo làng
Sớm chiều hai buổi bước lang thang
Mảnh bằng năm cũ còn trơ đó
Danh phận ngày nay luống ngỡ ngàng
Chữ nghĩa lỗi thời đà dẹp lại
Văn chương lạc hậu dám làm sang
Oái ăm chức phận ai xui khiến
Ngọn gió đìu hiu rụng lá vàng!

Diệp Thế Thoại

Như mắm trở mùi

Như mắm trở mùi
Khó chịu nào hơn mắm trở mùi
Chẳng tanh chẳng thối hỡi eo ôi
Hôi hôi hít phải cho nên hủm
Hủm hủm cho nên ngửi thấy hôi
Ầm ĩ bốn bề vang tiếng nhặng
Bập bềnh mặt nước nổi thây giòi
Dở ăn dở để khôn đem bán
Rõ khổ thân tôi phải ngửi hoài!

Diệp Thế Thoại

VỊNH TỀ THIÊN

VỊNH TỀ THIÊN
Tự xưng đại thánh để tề thiên
Nhảy múa liên hồi chẳng đứng yên
Khọt khẹt giở trò nơi ngõ vắng
Khò khè đánh giấc chốn non tiên
ưu tư vầng trán hằn bao nếp
Bắt chước đôi tay múa mấy quyền
Lận đận theo thầy lên Tây trúc
Vác cây thiết bản nhuốm màu thiền!

Diệp Thế Thoại

RỘN RÀNG ĐÓN XUÂN

Xuân đi rồi lại xuân về
Thời gian trôi giữa bộn bề đón xuân
Rộn ràng mứt bí mứt gừng
Hạt dưa củ kiệu thơm lừng mứt sen
Gia tiên sáng rực hương đèn
Lợn gà mâm cỗ sang hèn dám đâu
Lịch xuân đậm nét mực tàu
Tô màu hạnh phúc sang giàu bền lâu
Trong nhà đối đỏ đôi câu
Ngoài sân rực rỡ sắc màu gấm hoa
Tưng bừng khúc nhạc xuân ca
Tình xuân ngan ngát hương trà tri âm
Thơ xuân tròn ánh trăng rằm
Rượu xuân rót mãi ngàn năm vơi đầy
Xuân qua rồi lại xuân này
Thời gian trôi giữa tháng ngày ngóng xuân
đường đời dù mỏi đôi chân
Xuân còn thắm mãi mùa xuân trẻ già
Ngày xuân sum họp một nhà
Mặn mà vị tết đậm đà hương xuân!

Diệp Thế Thoại

VỊNH HÀM RÂU

Thả hồn theo khói thuốc đê mê
Nghĩ chuyện hàm râu thấy khổ ghê
Nhẵn nhụi: Giám Sinh phường đĩ đực
Xồm xoàm: Bùi Kiệm ấy nòi dê!
Rậm dày: gớm giếc loài beo cọp
Thưa thớt: nhờn khinh giống cóc trê
Ngán ngẩm chuyện đời râu với tóc
Tránh sao cho khỏi tiễng cười chê!

Diệp Thế Thoại

Viết ở Tuần Châu

(Riêng tặng Nguyên Hương-Hải Dương)
Biển trời, non nước, cỏ cây...
Tuần Châu đảo lạ một ngày viếng thăm
Tạ lòng tri kỷ tri âm
Bắc Nam muôn dặm xa xăm đã gần
Dừng chân giũ bụi phong trần
Tình thơ dẫu chỉ một lần khó quên
Tầng cao mây trắng bồng bềnh
Mạn thuyền sóng vỗ dập dềnh biển khơi
Vẳng nghe sông núi dậy lời
Tiếng hô "Sát Thát" rung trời chuyển non
Sơn hà một dải vàng son
Tấm gương oanh liệt mãi còn không phai
Gấm hoa khoe sắc giữa đời
Một thời lửa đạn qua rồi còn đâu...

Dáng xuân đẹp lắm Tuần Châu
Ra về gởi lại ngàn câu hẹn hò...
Tuần Châu, tháng 7/2005
Diệp Thế Thoại

NHỊN...

Nghèo đói nên thường phải nhịn ăn
Lại thêm nhịn...chuyện lăng nhăng
Nửa chừng khoái lạc cam đành nín
Đang lúc mê ly buộc phải dằn
Giận giận cuộc đời đây lắc lắc
hợn hờn thân phận đấy nhăn nhăn!
Nhịn ăn bóp bụng chờ qua bữa
Nhịn....ai ai cũng thấy căng!

Diệp Thế Thoại

NHỊN...

Nghèo đói nên thường phải nhịn ăn
Lại thêm nhịn...chuyện lăng nhăng
Nửa chừng khoái lạc cam đành nín
Đang lúc mê ly buộc phải dằn
Giận giận cuộc đời đây lắc lắc
hợn hờn thân phận đấy nhăn nhăn!
Nhịn ăn bóp bụng chờ qua bữa
Nhịn....ai ai cũng thấy căng!

Diệp Thế Thoại

Vịnh con bò

Tạo hóa sinh ra cái giống bò
Vui buồn vẫn cứ rống o o
Lội sình cổ kéo cây cày nặng
Vượt dốc vai mang cái cộ to
sống gởi đòn roi nào tiếc rẻ
Thác về còn gởi tấm da mo
Giúp đời vẹn chữ thân trâu ngựa
Ai hiểu bò kia tiếng rống o !

Diệp Thế Thoại

VĂN TẾ CỤ HUỲNH ĐÔ (*)

VĂN TẾ CỤ HUỲNH ĐÔ (*)
Than ôi!
Cuộc nhân sinh là bấy
Tứ khổ vần xoay trong sự tuần hoàn
Thoắt chữ sinh đã kíp thấy chữ già
Buổi chung cuộc cũng đến hồi bệnh, tử!

Trộm nhớ người xưa
Cửa Phật nương nhờ, muối dưa làm bữa.
Niệm kinh kệ lúc tóc còn để chỏm, tiếng nam mô theo nhịp mõ cầm canh,
Hồi công phu tự thuở mới lên mười, câu khấn nguyện quyết làm lành lánh dữ
Miền kinh kệ khói hương còn phảng phất, cảnh Hồ Sơn chùa cũ buổi quy y
Chốn quê nhà rực rỡ cuộc trai đàn, Quang Long tự kết đèn hoa rực rỡ.
Dập dìu tài tử giai nhân
Náo nức thiện nam tín nữ.
Chữ tục lụy dẫu Đường tăng kia tránh khỏi, đường Tây du cũng bảy nổi ba chìm
Nợ thê nhi dù thủ tự lỡ dính vào, nỗi oan trái nghĩ lại càng thêm hổ!

Một kiếp phù sinh, đắm trong bể khổ
Chuông gióng tiếng thanh ngân chưa dứt, cửa từ bi vội vắng bóng nâu sồng
Mõ khua hồi tiếng vọng còn rền, đường thế tục đã vai mang nặng nợ!
Âm thầm một bóng, hiu hắt ngọn đèn
Đơn lẻ chiếc thân, ánh trăng vàng võ!

Trách tạo hóa đường tu sao chẳng trọn, chướng căn kia ràng buộc để làm chi
Hờn thế nhân ít kẻ hiểu tiếng lòng, đàm tiếu nọ làm chi nên cớ sự!
Lớp hưng phế bụi mờ Quang Long tự, mấy lượt trùng tu, một lần kiến tạo, công đức kia nào dễ mấy ai bì.
Thành tâm với Phật, trung hiếu cùng đời, công đức ấy ngàn năm chưa dễ cũ
Khi giã biệt trần gian
là ngàn năm yên nghỉ

Câu sinh ký dẫu mờ mịt chữ nhân sinh hà tại, nửa cuộc đời chữ khổ trót đeo mang
Chữ tử quy dù mênh mông hậu thế như hà, một kiếp sống cũng thành cây đại thụ
Thành tâm khấn nguyện cho đức tụ mười phương
Thật dạ ước nguyện để danh lưu thiên cổ
Chênh chếch bóng trăng soi gò đất lạnh, nén hương lòng sưởi ấm cõi hư vô
Xót xa khi tiễn biệt một hình hài, câu tiếp dẫn nguyện cầu mau tế độ!

Diệp Thế Thoại
(*)Cụ Huỳnh Đô nguyên là sư trụ trì chùa Quang Long, cuộc đời lắm nỗi nổi chìm...Bản này có đọc trình Cụ trước lúc lâm chung và lưu giữ tại Hồ Sơn Cổ Tự.

PHÚ CÂY TRE

PHÚ CÂY TRE
(Kính trao về thầy Nguyễn Bá Quát với tất cả tấm lòng tri ân của cậu học trò ban C Nguyễn Huệ ngày cũ - DTT)
Giăng lũy giăng thành, tre già rắn chắc
Mặc sức trồi lên, măng non nhọn hoắc,
Nhớ lại thuở Vua Hùng dựng nước, đã tre xanh có tự bao giờ
Nhắc đến hồi chống lũ ngoại xâm, ơn Phù Đổng nhổ tre diệt giặc.
Rợp mát trời nam, ngút ngàn đất bắc
Cành khẳng khiu thế cũng mọc nhiều gai
Thân gầy guộc vậy mà sao lắm mắc
Ngọn gió thổi đìu hiu, giọt sương rơi lắc cắc
Rợp bóng che đường làng khúc khuỷu mãi dài thêm.
Xây thành lũy xóm thôn quanh co nhìn ngút mắt
Chữ cổ xưa rằng: nuột lạt bát cơm
Nghĩa hiện đại ờ: kém chi thép sắt.
Dựng chiến lũy Ba Đình nơi hiểm trở, Nam sử rạng tài Đinh Công Tráng, ba mươi năm chống giặc dưới tàn tre
Về Ba Tri nhớ chiếc gậy tầm vông, mắng bọn người mãi quốc cầu vinh, thân Đồ Chiểu dãu mù đui cặp mắt.
Đan tấm phên dày dẫu mọt nhấm vẫn còn trơ
Chẻ sợi lạt mỏng dù nắng sương đây rất chắc
Hiu hiu nồm thổi, măng nhú chồi chồi
Trở bấc lạnh lùng, tre gào rắc rắc
Dấu tích cũ thuở khai thiên lập địa đà phân chia nẻo chính với đường tà
Đã mờ phai trời đất cách ngăn rồi, nhắc chi nữa chuyện xưa tre trăm mắc!
Thân dẫu chết vẫn còn nguyên cội rễ, trải phong sương làm chứng tích với thời gian
Gốc dù lay nào dễ bới đào lên, bám chặt đất cho lũy thành thêm rắn chắc.
Nay chấp bút phúng trào câu phú lục, tả cây tre đời xửa với đời nay
Chữ đắc tâm ghi chép vội mấy dòng, biết đâu được đời sau còn kẻ nhắc!

DIỆP THẾ THOẠI
Được đăng bởi thethoai vào lúc 05:33
0 nhận xét:

KHÓC NHÃ NAM (*)

Than ôi!
Vội vã mà chi, nên cách biệt bỡi đôi đường sinh tử
Thôi cũng từ đây đành cảm thương cho hai chữ mất còn.

Nhớ người xưa
Đức trọng tài cao, văn hay chữ tốt
Niềm rung cảm khiến buồng tim nhỏ máu, đêm hằng đêm bên nét chữ mực nhòe,
Nợ thê nhi biến sỏi đá thành cơm, thân gầy guộc nào ngại chi gian khó!
Một chốn buồng văn
Mấy gian ngói đỏ
Giàu bè bạn là sự giàu nhân nghĩa, ấm trà khê lắm kẻ tới người lui.
Khó bạc tiền là cái khó phong lưu, chén rượu nhạt cũng tâm tình cạn tỏ
Mấy sợi khói gợi lên niềm thương cảm, là tri âm đâu cách trở quan hà.
Một tấm lòng ghi nhất tự vi sư, lời khen thật biết mình hay chẳng hổ.
Niềm ước vọng thấp cao dù chưa đạt. chữ tử quy cứ nhẹ gánh tếch đường mây
Cuộc hàn huyên nhiều ít dẫu đã nhòa, câu sinh ký có nặng chi lời to nhỏ.
Đức tụ mười phương, danh lưu thiên cổ
Nấm đất hỡi, dù thiêng xin bớt lạnh, hơi tái tê thêm nhức nhối hình hài.
Vầng trăng ơi dẫu quạnh vội chi mờ, chênh chếch bóng cũng làm đau ngọn cỏ!
Cầu nhân định thắng thiên để bước trọn đường trần
Xin trời đất mãi là xuân cho trăm hoa đua nở.
Tết nguyên đán chạnh niềm đau còn mất, thắp nén hương nguyền cho thuyền Bát Nhã thuận phong.
Nỗi vui xuân vắng bạn hiểu tiếng lòng, giọt lệ đắng hỡi người thơ xin thấu tỏ!

DIỆP THẾ THOẠI
(* Thầy Ngô Thạch Ủng có bút hiệu Nhã Nam và Đỗ Chu Thăng

NGÀY Ở ĐÀ LẠT

Giang sơn tuyệt mỹ là đây
Đường về Đà Lạt đồi cây chập chùng.
Vút cao là dáng của thông,
Ôm trùm kín đất sắc hồng của hoa
Rì rào nước chảy suối ca,
Giang sơn gói trọn đậm đà riêng chung.
Dễ thương đôi má em hồng,
Cám ơn đất mẹ tấm lòng bao dung
Bao nhiêu đồi núi chập chùng,
Bấy nhiêu tình cảm đến cùng xứ mơ
Ta đi trong sớm sương mờ
Nghe lòng dậy những câu thơ giữa đời
Thông reo suối chảy lưng trời
Dễ gì quên được nụ cười nở hoa...
Đà Lạt ơi, mai chia xa
Ta về...
vẫn mãi thiết tha tình người!

Diệp Thế Thoại

Gởi đến cung Hằng

Trăng hỡi trăng, trăng hỡi trăng
Cho thuyền ta đậu bến sông trăng
Bập bềnh mây nổi thương cung Nguyệt
Mờ tỏ trăng trôi nhớ chị Hằng
Ghé bến vô duyên tình không ngỏ
Vào bờ lỡ phận lệ khôn ngăn
Hỡi trăng muôn kiếp sầu nhân thế
Soi sáng trần gian có biết chăng!

Diệp Thế thoại

Những bài thơ độc âm

1/ TRÁNH THÁCH TỬU

Thèm thì tu tiếp thấm thì thôi
Thách thức te tua tỏ thói tồi
Trong tiệc thắm tình thân thiết thật
Tiệc tàn tơi tả tấm thân tôi
Tình tiền tính toán thêm tiều tụy
Trà tửu thi thơ thú thảnh thơi
Thách tửu thói thường ta thiếu tốt
Thèm thì tu tiếp thấm thì thôi!
x
Thì thôi tiệc tửu tới tiệc trà
Trong tiếng tâm tình thấy thiết tha
Trân trọng tình thân trân trọng tửu
Thắm tình tập thể thắm tình ta
Tâm tư thanh thản từ thân thiện
Trí tuệ thảnh thơi tứ thật thà
Trăng tỏ trăng tròn trăng thổn thức
Tửu tan ta tiếp tục tiệc trà!
x
Tan tiệc trà ta thưởng thức thơ
Tiếng thơ thổn thức tận tâm tư
Tâm tình tơ tóc thành than thở
Tức tưởi tang thương thẹn thẫn thờ
Thấp thỏm trông trăng thèm thỏ trắng
Thập thò trút tửu thích tình thơ
Thì thôi thơ tửu tình tơ trúc
Thách tửu thơ tôi thấu tận trời!

T.DIỆP